Tôi dừng lại rất lâu trước “Gánh hát thợ cầu” của tác giả Bùi Công Phiếu (Báo Giao thông vận tải). Cái thu hút tôi không phải tiếng hát trầm bổng, du dương của gánh hát mà lại là đọc được một tứ thơ hay. Thơ hay trước hết là ở tứ.
“Gánh hát” thợ cầu
(Kính tặng Công ty Cầu 1 - đơn vị 2 lần Anh hùng
và anh Trịnh Văn Côi, Phó Tổng Giám đốc, Tổng Công ty Xây dựng Thăng Long)
"Gánh hát” thợ cầu gần nghìn con người
(Không phông màn chẳng trống kèn, sáo nhị)
Chúng tôi hành quân đến những miền quê bình dị
Hành trang là búa, máy, dàn khoan
Những máy đào, đầm rung, máy xúc, xe ben
Cùng sỏi đá, xi măng, sắt thép…
Lán trại sơ sài ghép bằng cót ép
Bản vẽ trên tay cây cầu mới nhất
Mùi mực in còn phảng phất chất công trường
Đôi bàn tay thợ kích kéo tựa gọng kìm
Tiếng búa máy rùng rùng chuyển đất.
Chặn dòng xoáy bằng khung vây, ván thép
Bắt con nước phải ngừng chảy xiết
Ta găm xuống dòng sông
Sâu hàng trăm thước
Những trụ cầu bằng bê tông, cốt thép
Mốc thời gian và ý chí con người
Chớp lửa hàn lấp lóa mặt sông
Rạng rỡ nét cười thợ trẻ
Con rồng thép vắt ngang thế kỷ
Ngày hợp long mẹ mình vui lắm nhỉ
Cả dân làng hai huyện đổ ra xem
Mũ thợ cầu thấp thoáng,
Nón nghiêng nghiêng.
Mà sóng nước xốn xang đến vậy.
Em lộng lẫy khiến anh nhìn chẳng thấy
Bóng áo dài lẫn áo thợ xanh xanh
Cây cầu mới quê anh
Và cây cầu quê em
Trăm cây cầu - nơi núi đỏ rừng xanh
Sau ngày vui khánh thành
“Gánh hát” chúng tôi gần ngàn con người
Lại ca khúc quân hành ở một miền quê mới.
Công ty Cầu 1 Thăng Long vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (20/6/2001)
Bùi Công Phiếu đã thành công trong khám phá, phát hiện, liên tưởng, so sánh để tìm ra cái tứ: Những người thợ cầu như một gánh hát. Những người hát không thành tiếng mà trí óc bàn tay của họ đã dệt nên những công trình nối hai bờ ngăn cách thành một bài ca lao động mà những nhịp cầu mãi mãi ngân vang trong lòng người thợ cầu, trong lòng mọi người qua lại.
Cái nghề của gánh hát là đi lưu diễn, hôm nơi này mai nơi nọ, ngoài mục đích sinh nhai là đem niềm vui cho cuộc đời. Người thợ cầu cũng vậy, làm xong cầu nơi này lại đến làm nơi khác. Ngoài mục đích sinh nhai cũng đem lại niềm vui hạnh phúc cho cuộc đời. Chỉ có khác là hành trang “Không phông màn, chẳng trống kèn, sáo nhị” mà:
“… Là búa máy, giàn khoan
Những máy đào, đầm rung, máy xúc, xe ben
Cùng sỏi đá, xi măng, sắt thép…
Lán trại sơ sài ghép bằng cót ép…”
Bài thơ được phát triển sang một thời điểm mới. Thời điểm những “Diễn viên” thợ cầu lên “Sân khấu” :
Chặn dòng xoáy bằng khung vây, ván thép
Bắt con nước phải ngừng chảy xiết
Ta găm xuống dòng sông
Sâu hàng trăm thước
Những trụ cầu bằng bê tông, cốt thép
Mốc thời gian và ý chí con người…
Để có được những trụ cầu “Găm xuống dòng sông sâu hàng trăm thước” người thợ cầu phải vật lộn với một thế lực ghê gớm “Nhất quỷ nhì hỏa” rồi phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn thách đố như khí hậu, thời tiết, sinh hoạt, vật tư thiết bị và trình độ kỹ thuật… Găm được những trụ cầu ấy là “Găm mốc thời gian”, “Găm ý chí con người” quyết tâm chiến thắng. Anh đã khẳng định cái nguyên nhân của kết quả chính là sức mạnh của con người và sức mạnh của thiết bị kỹ thuật và anh đã khái quát trong một hình tượng đẹp:
Đôi bàn tay thợ kích kéo tựa gọng kìm
Tiếng búa máy rùng rùng chuyển đất…
Và một hình tượng rất đẹp làm sáng cả bài thơ : “Con rồng thép vắt ngang thế kỷ”. Trong văn học, một khi đã dựng được một hình tượng thực như hư, hư mà thực sẽ tạo được một sự hấp dẫn lạ kỳ. Ở đây, cái thực là chiếc cầu sắt được nối qua hai mố cầu của hai bờ sông mà những người thợ cầu đang khẩn trương thi công để chào đón thiên niên kỷ mới. Cái hư là một thực tại khách quan : chiếc cầu được xây dựng năm 2000 – là năm con rồng, sắp bước sang 2001. Và hai thế kỷ đó như hai mố cầu để chiếc cầu “hóa thành” con rồng thép vắt qua. Một chiếc cầu thép rắn chắc đến thế nhưng tác giả dùng từ “vắt” như một ngọn đèn màu nhấp nháy, lung linh của câu thơ. Anh không chỉ thấy cái bên ngoài mà còn thấy cái chiều sâu tâm hồn người thợ:
“Chớp lửa hàn lấp lóa mặt sông
Rạng rỡ nét cười thợ trẻ”
Và niềm vui sướng của bà con dân làng khi chiếc cầu hợp long:
“Ngày hợp long mẹ mình vui lắm nhỉ
Cả dân làng hai huyện đổ ra xem
Mũ thợ cầu thấp thoáng
Nón nghiêng nghiêng
Mà sóng nước xốn sang đến vậy”
Một chiếc cầu mới bắc qua sông, cái mơ ước ngàn đời của người dân vùng này nay mới có được. Anh đã nghe được “tiếng lòng của thời đại” – Đó là niềm vui của người thợ cầu, của cô gái, của bà mẹ, của dân làng hai huyện. Niềm vui rất cụ thể của mỗi người. Tứ thơ lại được phát triển nâng lên khái quát, cảnh và tình hòa quyện “Mà sóng nước xốn xang đến vậy”. Sóng nước xốn xang – chính là lòng người xốn xang mừng vui nghẹn ngào khôn tả xiết. Và họ biết một ngày mai chia tay:
Sau ngày vui khánh thành
“Gánh hát” chúng tôi gần ngàn con người
Lại ca khúc quân hành ở một miền quê mới.
Thế là họ lại ra đi. Mở đầu bài thơ xuất hiện gánh hát thợ cầu ra đi đến những miền quê bình dị. Kết thúc bài thơ lại xuất hiện gánh hát thợ cầu ra đi tới một miền quê mới. Cái kết cầu đầu cuối tương ứng ấy như vừa khép lại một công trình lại mở ra trước mắt ta một công trình mới xuất hiện.
Bài thơ không ồn ào về chiến công của thợ cầu, về một đợn vị Anh hùng. Chỉ một vài hình ảnh: “Găm xuống dòng sông những trụ cầu sâu hàng trăm thước”, “Con rồng thép vắt ngang thế kỷ” và “Trăm cây cầu nơi núi đỏ rừng xanh” đã đánh dấu công cuộc đổi mới của đất nước, đã chứng minh sự trưởng thành mạnh mẽ nhanh chóng của Tổng Công ty cầu Xây dựng Thăng Long – niềm tự hào của ngành GTVT.
Ngày xưa những gánh hát hạ màn ra đi, tiếng hát cũng tắt dần và tan biến trong không gian. Ngày nay “Gánh hát thợ cầu” ra đi để lại một sân khấu diệu kỳ - Con rồng thép vắt ngang thế kỷ - Và bản hợp xướng về bài ca lao động của Tổng Công ty cầu Thăng Long vọng mãi muôn đời. Cái tứ hay ấy đã chấp cánh cho bài thơ và đưa “Gánh hát thợ cầu” một thế đứng về đề tài giao thông vận tải.
Tuy nhiên cũng cần trao đổi thêm vài điểm, chẳng hạn: giá như “Gánh hát thợ cầu gần nghìn con người” thay từ “con người” bằng từ “diễn viên” thì sẽ chặt chẽ lôgic về thuật ngữ nghề nghiệp (gánh hát – diễn viên), và câu thơ tăng độ dí dỏm sẽ không bị cứng mà tự nhiên hơn. Hoặc thay từ “diễn viên” ở cuối câu lại tăng thêm nhạc tính:
“Gánh hát” chúng tôi gần nghìn “diễn viên”
Lại ca khúc quân hành ở một miền quê mới.
Đặc biệt là từ “ở” của câu cuối bài thơ dừng chưa đạt. Ca khúc quân hành nghĩa là hát trên đường hành quân, vừa đi vừa hát. Vì vậy, các nhạc sĩ khi viết hành khúc đều viết nhịp đi – nhịp 2/4. Như vậy là khi ba lô lên vai, xe nổ máy lên đường là đã hát. Chứ không phải ở một miền quê mới rồi lới hát khúc quân hành. Những sai sót đó rất nhỏ so với cả một bài thơ thành công của Công Phiếu. Anh đã phản ánh được hơi thở của cuộc sống – Thời kỳ Việt Nam sôi động trong công cuộc đổi mới, những cây cầu đang được hiện đại hóa; sự trưởng thành nhanh chóng mạnh mẽ của ngành GTVT. Anh đã nghe được tiếng lòng của thời đại qua nỗi vui sướng của bà mẹ già và người dân hai huyện khi nhìn thấy cây cầu như một con rồng thép – Cái ước mơ ngàn đời nay mới có được.
Lê Viết Đương